Thành phần
Thuốc Ronakym 100mg DRP Inter có thành phần:
Công dụng (Chỉ định)
Thuốc Ronakym được chỉ định để điều trị đái tháo đường tuýp 2 ở người lớn như là một thuốc bổ trợ cho chế độ ăn kiêng và luyện tập để cải thiện kiểm soát đường huyết:
- Đơn trị liệu: Khi bệnh nhân không dung nạp hoặc chống chỉ định với metformin.
- Phối hợp thuốc: Dùng với các thuốc khác để điều trị đái tháo đường.
Cách sử dụng thuốc Ronakym 100mg
Thuốc dùng đường uống, nuốt nguyên viên, nên uống ngày một lần và tốt nhất là trước bữa ăn sáng.
Liều dùng
Liều khuyến cáo khởi đầu của Ronakym là 1 viên x 1 lần/ngày. Cần kiểm soát đường huyết chặt chẽ ở những bệnh nhân đang dung nạp với liều 100 mg ngày 1 lần, có eGFR ≥ 60 mL/phút/1,73 m2 và có thể tăng lên 3 viên Ronakym x 1 lần/ngày.
Cần thận trọng khi tăng liều ở bệnh nhân ≥ 75 tuổi, bệnh nhân mắc bệnh tim mạch hoặc những bệnh nhân khác có nguy cơ bị bài niệu ban đầu do dùng canagliflozin.
Nên điều trị tình trạng suy giảm thể tích trước khi bắt đầu sử dụng canagliflozin.
Trong điều trị phối hợp với insulin hoặc chất kích thích tiết insulin (như sulfonylurea), có thể xem xét liều insulin hoặc chất kích thích tiết insulin thấp hơn để giảm nguy cơ hạ đường huyết.
Đối tượng đặc biệt:
Người cao tuổi (65 tuổi): Cần xem xét chức năng thận và nguy cơ suy giảm thể tích.
Suy thận: Nên dùng Ronakym 1 viên x 1 lần/ngày, để bổ sung vào liệu pháp điều trị bệnh thận do đái tháo đường (như thuốc ức chế ACE hoặc ARB). Do hiệu quả hạ đường huyết của canagliflozin giảm ở bệnh nhân suy thận trung bình và không có hiệu quả ở bệnh nhân suy thận nặng, nếu cần kiểm soát đường huyết hơn nữa, nên cân nhắc bổ sung các thuốc chống tăng đường huyết khác.
Chống chỉ định
- Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)
Nhiễm khuẩn và nhiễm kí sinh trùng:
- Rất thường gặp: Nấm Candida ở âm đạo.
- Thường gặp: Viêm quy quy đầu hoặc bao quy đầu, nhiễm khuẩn đường tiết niệu (viêm bể thận, nhiễm khuẩn đường tiết niệu tăng đã được báo cáo sau khi đưa ra thị trường).
- Chưa biết: Viêm cân mạc hoại tử đáy chậu.
Hệ miễn dịch:
- Hiếm gặp: Phản ứng phản vệ.
Chuyển hóa và dinh dưỡng:
- Rất thường gặp: Hạ đường huyết khi dùng kết hợp với insulin hoặc sulfonylurea.
- Ít gặp: Mất nước.
- Hiếm gặp: Nhiễm toan ceton do đái tháo đường.
Thần kinh:
- Ít gặp: Hạ huyết áp, hạ huyết áp thế đứng.
Tiêu hóa:
- Thường gặp: Táo bón, khát nước, buồn nôn.
Da và mô dưới da:
- Ít gặp: Nhạy cảm ánh sáng, phát ban, mày đay.
- Hiếm gặp: Phù mạch
Cơ xương và mô liên kết:
Thận và tiết niệu:
- Thường gặp: Tiểu nhiều, đa niệu.
- Ít gặp: Suy thận (trong trường hợp suy giảm thể tích).
Phẫu thuật:
- Ít gặp: Cắt cụt chi dưới (chủ yếu là ngón chân và bàn chân giữa) đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh tim.
Tương tác với các thuốc khác
Tương tác dược lực học:
Thuốc lợi tiểu: Canagliflozin có thể làm tăng tác dụng lợi tiểu và tăng nguy cơ mất nước và hạ huyết áp.
Insulin và các chất kích thích tiết insulin: Insulin và các chất kích thích tiết insulin như sulfonylurea có thể gây hạ đường huyết. Do đó, có thể xem xét liều insulin hoặc chất kích thích tiết insulin thấp hơn để giảm nguy cơ hạ đường huyết khi dùng đồng thời với canagliflozin.
Tương tác dược động học:
Ảnh hưởng của các sản phẩm thuốc khác đối với canagliflozin:
Sự chuyển hóa của canagliflozin chủ yếu thông qua sự liên hợp glucuronid bởi các UDP-Glucuronosyl transferases 1A9 (UGT1A9) và 2B4 (UGT2B4). Canagliflozin được vận chuyển bởi P-glycoprotein (P-gp) và protein kháng ung thư vú (BCRP).
Các chất cảm ứng enzym (như St. John's wort (Hypericum perforatum), rifampicin, các barbiturat, phenytoin, carbamazepine, ritonavir, efavirenz) có thể làm giảm hấp thu và giảm tác dụng của canagliflozin. Sau khi sử dụng đồng thời canagliflozin với rifampicin (cảm ứng enzym chuyển hóa thuốc và các chất vận chuyển tích cực khác), ghi nhận giảm AUC và Cmax của canagliflozin tương ứng 51% và 28%.
Cần theo dõi đường huyết để đánh giá đáp ứng điều trị của canagliflozin khi được chỉ định dùng đồng thời với chất cảm ứng UGT và protein vận chuyển. Nếu cần thiết phải dùng đồng thời với chất cảm ứng UGT, có thể cân nhắc tăng liều lên 300 mg x 1 lần/ngày ở bệnh nhân đang dung nạp liều canagliflozin 100 mg x 1 lần/ngày, có eGFR > 60 mL/phút/1,73 m2 hoặc CrCl > 60 mL/phút, và yêu cầu kiểm tra đường huyết bổ sung.
Cân nhắc sử dụng liệu pháp hạ đường huyết khác ở những bệnh nhân có eGFR 45 mL/phút/1,73 m2 đến < 60 mL/phút/1,73 m2 hoặc CrCl 45 mL/phút đến < 60 mL/phút đang dùng đồng thời canagliflozin 100 mg với chất cảm ứng men UGT và ở những bệnh nhân cần kiểm soát đường huyết bổ sung.
Cholestyramine có khả năng làm giảm hấp thu canagliflozin. Nên dùng canagliflozin ít nhất 1 giờ trước hoặc 4 - 6 giờ sau khi dùng thuốc cô lập acid mật để giảm thiểu khả năng ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc.
Các nghiên cứu tương tác cho thấy dược động học của canagliflozin không bị thay đổi bởi metformin, hydrochlorothiazide, thuốc tránh thai (ethinyl estradiol và levonorgestrol), ciclosporin và/hoặc probenecid.
Ảnh hưởng của canagliflozin đối với các thuốc khác:
Digoxin: Dùng kết hợp canagliflozin 300 mg x 1 lần/ngày trong 7 ngày với 1 liều duy nhất 0,5 mg digoxin và tiếp theo là 0,25 mg/ngày trong 6 ngày làm tăng 20% AUC và 36% Cmax của digoxin, có thể do ức chế P-gp. Trong nghiên cứu in vitro, ghi nhận canagliflozin ức chế P-gp. Cần theo dõi thường xuyên bệnh nhân dùng digoxin hoặc các glycosid tim khác (như digitoxin).
Dabigatran: Ảnh hưởng của việc dùng đồng thời canagliflozin (một chất ức chế P-gp yếu) và dabigatran etexilate (một cơ chất P-gp) chưa được nghiên cứu. Vì nồng độ dabigatran có thể tăng lên khi có canagliflozin, nên theo dõi (dấu hiệu chảy máu hoặc thiếu máu) khi dùng đồng thời.
Simvastatin:
Dùng kết hợp canagliflozin 300 mg x 1 lần/ngày trong 6 ngày với một liều duy nhất simvastatin (cơ chất CYP3A4) 40 mg làm tăng 12% AUC và 9% Cmax của simvastatin, và tăng 18% AUC và 26% Cmax của simvastatin acid. Sự tăng hấp thu simvastatin và simvastatin acid không có liên quan về mặt lâm sàng.
Không thể loại trừ canagliflozin có thể ức chế BCRP ở ruột, do đó có thể làm tăng hấp thu các thuốc được vận chuyển bằng BCRP, như rosuvastatin và một số thuốc chống ung thư.
Trong các nghiên cứu về tương tác, canagliflozin ở trạng thái ổn định không có tác dụng lâm sàng liên quan đến dược động học của metformin, thuốc tránh thai dạng uống (ethinyl estradiol và levonorgestrol), glibenclamide, paracetamol, hydrochloro-thiazide hoặc warfarin.
Lưu ý khi sử dụng Ronakym 100mg (Cảnh báo và thận trọng)
Cần rất thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh trong các trường hợp sau:
Suy thận:
Hiệu quả trên đường huyết của canagliflozin phụ thuộc vào chức năng thận và hiệu quả giảm ở bệnh nhân suy thận trung bình và có thể không có hiệu quả ở bệnh nhân suy thận nặng.
Nguy cơ cao xảy ra các phản ứng có hại liên quan đến suy giảm thể tích (như chóng mặt tư thế, hạ huyết áp thế đứng, hạ huyết áp) đã được báo cáo ở bệnh nhân có eGFR <60 mL/phút/1,73 m2 hoặc CrCl < 60 mL/phút, đặc biệt khi dùng liều 300 mg. Ngoài ra, nhiều trường hợp tăng nồng độ kali, creatinin trong huyết thanh và nitơ urê huyết (BUN) ở những bệnh nhân này đã được báo cáo.
Do đó, ở những bệnh nhân có eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2 hoặc CrCl < 60 mL/phút liều canagliflozin nên dùng là 1 viên x 1 lần/ngày.
Bệnh nhân dùng canagliflozin bị giảm eGFR ban đầu, sau đó giảm dần theo thời gian mà không phụ thuộc vào eGFR trước khi điều trị.
Khuyến cáo đánh giá chức năng thận như sau:
- Trước khi bắt đầu điều trị với canagliflozin và ít nhất là định kỳ hàng năm sau đó.
- Trước khi bắt đầu điều trị phối hợp với bất kỳ thuốc nào có thể làm giảm chức năngthận và định kỳ sau đó.
Có thể dùng canagliflozin để điều trị bệnh thận do đái tháo đường (eGFR > 30 mL/phút/1,73 m2) cả khi có và không có albumin niệu. Trong cả hai nhóm canagliflozin có thể hiệu quả hơn ở bệnh nhân có albumin niệu.
Nguy cơ phản ứng phụ suy giảm thể tích:
Do cơ chế tác dụng của canagliflozin, làm tăng bài tiết glucose trong nước tiểu dẫn đến bài niệu thẩm thấu, có thể làm giảm thể tích nội mạch và hạ huyết áp. Trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát về canagliflozin, ghi nhận với liều 300 mg làm tăng các phản ứng phụ liên quan đến suy giảm thể tích hơn (như chóng mặt tư thế, hạ huyết áp thế đứng hoặc hạ huyết áp) và thường xuyên nhất trong ba tháng đầu.
Cần thận trọng ở những bệnh nhân mà việc giảm huyết áp do canagliflozin có thể gây ra rủi ro, như bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, bệnh nhân có eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2, bệnh nhân đang điều trị tăng huyết áp có tiền sử hạ huyết áp, bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc bệnh nhân cao tuổi (65 tuổi).
Do suy giảm thể tích, eGFR thường giảm ít trong vòng 6 tuần đầu tiên kể từ khi bắt đầu điều trị với canagliflozin. Ở những bệnh nhân có nguy cơ giảm thể tích nội mạch như đã mô tả ở trên, đôi khi thấy eGFR giảm nhiều hơn (> 30%), sau đó được cải thiện và ít phải ngưng điều trị bằng canagliflozin.
Nên thông báo bệnh nhân báo cáo các triệu chứng suy giảm thể tích. Canagliflozin không khuyến cáo sử dụng cho những bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu quai hoặc những người bị suy giảm thể tích, như do bệnh cấp tính (bệnh đường tiêu hóa).
Đối với bệnh nhân dùng canagliflozin, trong trường hợp các bệnh lý đồng thời có thể dẫn đến suy giảm thể tích (như bệnh đường tiêu hóa), cần theo dõi cẩn thận tình trạng thể tích (như kiểm tra thể chất, đo huyết áp, thực hiện các xét nghiệm bao gồm xét nghiệm chức năng thận) và chất điện giải trong huyết thanh. Có thể cân nhắc việc ngừng điều trị tạm thời bằng canagliflozin đối với những bệnh nhân bị suy giảm thể tích khi đang điều trị bằng canagliflozin cho đến khi tình trạng bệnh được khắc phục.
Nếu bị gián đoạn, nên cân nhắc theo dõi đường huyết thường xuyên hơn.
Nhiễm toan ceton do đái tháo đường:
Hiếm gặp các trường hợp bệnh nhân đái tháo đường, điều trị bằng thuốc SGLT2 bao gồm canagliflozin nhiễm toan ceton đe dọa đến tính mạng hoặc tử vong.
Trong một số trường hợp, tình trạng này không điển hình với chỉ số đường huyết tăng vừa phải, dưới 14 mmol/L (250 mg/ dL). Người ta không biết liệu nhiễm toan ceton có nhiều khả năng xảy ra với liều canagliflozin cao hơn hay không. Nguy cơ DKA dường như cao hơn ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận từ trung bình đến nặng, những người yêu cầu dùng insulin.
Cân nhắc nguy cơ nhiễm toan ceton khi thấy các triệu chứng không điển hình như nôn, buồn nôn, chán ăn, đau bụng, khát nhiều, khó thở, lú lẫn, mệt mỏi hoặc buồn ngủ bất thường. Bất kể mức đường huyết bao nhiêu nhưng nếu các triệu chứng trên xuất hiện, phải đánh giá tình trạng nhiễm toan ceton cho bệnh nhân ngay lập tức.
Nếu nghi ngờ hoặc chẩn đoán nhiễm toan ceton, nên ngưng dùng Ronakym ngay lập tức.
Nên tạm ngừng điều trị ở những bệnh nhân nhập viện để làm các phẫu thuật lớn hoặc bị các bệnh nặng cấp tính. Khuyến cáo theo dõi nồng độ ceton ở những bệnh nhân này.
Đo nồng độ ceton trong máu được ưu tiên hơn trong nước tiểu. Có thể tiếp tục điều trị lại với canagliflozin khi giá trị ceton bình thường và tình trạng bệnh nhân ổn định.
Trước khi điều trị với canagliflozin, nên xem xét đến các yếu tố tiền sử của bệnh nhân có thể dẫn đến nhiễm toan ceton.
Những bệnh nhân có thể có nguy cơ bị nhiễm toan ceton cao hơn bao gồm những bệnh nhân suy giảm chức năng tế bào beta (như bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có nồng độ C-peptide thấp hoặc bệnh đái tháo đường tự miễn tiềm ẩn ở người lớn hoặc bệnh nhân có tiền sử viêm tụy), bệnh nhân mắc các bệnh dẫn đến hạn chế ăn hoặc mất nước nặng, bệnh nhân giảm liều insulin và bệnh nhân tăng nhu cầu insulin do bệnh nội khoa cấp tính, phẫu thuật hoặc lạm dụng rượu. Cần thận trọng khi dùng thuốc ức chế SGLT2 cho những bệnh nhân này.
Không khuyến cáo sử dụng lại các thuốc ức chế SGLT2 cho những bệnh nhân trước đó đã bị nhiễm toan ceton khi đang dùng các thuốc này trừ khi được xác định rõ do nguyên nhân khác và đã khắc phục.
Không nên dùng canagliflozin cho bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 do an toàn và hiệu quả chưa được xác định. Dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 cho thấy tình trạng nhiễm toan ceton thường gặp ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế SGLT2.
Cắt cụt chi dưới:
Trong các nghiên cứu lâm sàng dài hạn về canagliflozin ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 có bệnh tim mạch (CVD) hoặc ít nhất 2 yếu tố nguy cơ đối với CVD, canagliflozin làm tăng nguy cơ cắt cụt chi dưới so với giả dược (tương ứng 0,63 so với 0,34 biến cố trên 100 bệnh nhân - năm) và sự gia tăng này chủ yếu xảy ra ở ngón chân và phần giữa bàn chân.
Trong một nghiên cứu lâm sàng dài hạn ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và bệnh thận do đái tháo đường, không có sự khác biệt nào về nguy cơ cắt cụt chi dưới ở bệnh nhân được điều trị bằng canagliflozin 100 mg so với giả dược. Trong nghiên cứu này, các biện pháp phòng ngừa như dưới đây đã được áp dụng. Do cơ chế chưa được thiết lập nên các yếu tố ngoài các yếu tố nguy cơ chung đối với cắt cụt chi dưới vẫn chưa được biết.
Trước khi bắt đầu dùng canagliflozin, cần xem xét các yếu tố tiền sử có thể làm tăng nguy cơ cắt cụt chi. Như là biện pháp phòng ngừa, cần theo dõi cẩn thận những bệnh nhân có nguy cơ cao bị cắt cụt chi và tư vấn cho bệnh nhân về tầm quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ bàn chân thường xuyên và uống đủ nước. Có thể cân nhắc việc ngừng điều trị với Ronakym ở những bệnh nhân phát triển các biến cố có thể xảy ra trước khi cắt cụt chi như loét da chi dưới, nhiễm khuẩn, viêm tủy xương hoặc hoại thư.
Viêm cân mạc hoại tử vùng đáy chậu (hoại tử Fournier):
Đã có báo cáo về các trường hợp viêm cân mạc hoại tử vùng đáy chậu (hay còn gọi là hoại tử Fournier), một dạng nhiễm khuẩn hoại tử hiếm gặp nhưng nghiêm trọng và đe dọa đến tính mạng, cần can thiệp phẫu thuật khẩn cấp và điều trị kháng sinh trên bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị bằng các thuốc ức chế SGLT2.
Bệnh nhân nên thăm khám bác sĩ nếu xuất hiện cùng lúc các triệu chứng đau, ban đỏ, hoặc sưng bộ phận sinh dục hoặc vùng đáy chậu, kèm sốt hoặc khó chịu. Cần biết rằng nhiễm khuẩn niệu - sinh dục hoặc áp xe tầng sinh môn có thể báo trước viêm cân hoại tử. Nếu nghi ngờ mắc bệnh, cần ngừng dùng Ronakym và nhanh chóng điều trị (bao gồm dùng kháng sinh và phẫu thuật cắt bỏ).
Hematocrit cao: Ghi nhận tăng hematocrit khi điều trị bằng canagliflozin, do đó cần theo dõi cẩn thận ở những bệnh nhân đã tăng hematocrit.
Người cao tuổi 65 tuổi): Bệnh nhân cao tuổi có nhiều nguy cơ bị suy giảm thể tích hơn, có thể do điều trị bằng thuốc lợi tiểu và suy giảm chức năng thận. Các phản ứng có hại liên quan đến suy giảm thể tích (như chóng mặt tư thế, hạ huyết áp thế đứng, hạ huyết áp) thường xảy ra hơn ở bệnh nhân ≥ 75 tuổi. Ngoài ra, ở những bệnh nhân này eGFR giảm nhiều hơn.
Nhiễm khuẩn cơ quan sinh dục: Phù hợp với cơ chế ức chế kênh đồng vận chuyển Na-glucose 2 làm tăng UGE, nhiễm nấm Candida âm đạo ở nữ và viêm quy đầu hoặc bao quy đầu ở nam giới đã được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng với canagliflozin. Bệnh nhân nam và nữ có tiền sử nhiễm khuẩn cơ quan sinh dục có nhiều khả năng bị nhiễm hơn. Viêm quy đầu hoặc bao quy đầu chủ yếu xảy ra ở những bệnh nhân nam chưa cắt bao quy đầu, trong một vài trường hợp dẫn đến hẹp bao quy đầu và/hoặc cắt bao quy đầu. Phần lớn các trường hợp nhiễm khuẩn cơ quan sinh dục được điều trị bằng phương pháp chống nấm tại chỗ do bác sĩ kê đơn hoặc tự điều trị đồng thời với canagliflozin.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Sau khi thuốc lưu hành, nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng bao gồm viêm bể thận và nhiễm khuẩn đường tiết niệu đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng canagliflozin và thường dẫn đến việc gián đoạn điều trị.
Cân nhắc ngừng tạm thời canagliflozin trên những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu biến chứng.
Suy tim: Kinh nghiệm còn hạn chế ở bệnh nhân NYHA nhóm III và không có kinh nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân NYHA nhóm IV.
Xét nghiệm nước tiểu: Do cơ chế tác dụng của thuốc, bệnh nhân dùng canagliflozin sẽ cho kết quả dương tính với glucose trong nước tiểu.
Thông tin về tả được: Ronakym có chứa lactose. Bệnh nhân bị rối loạn di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase hoàn toàn hoặc kém hấp thu glucose - galactose không nên dùng thuốc này.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Thuốc không có hoặc ảnh hưởng không đáng kể trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, bệnh nhân nên được cảnh báo về nguy cơ hạ đường huyết khi sử dụng Ronakym phối hợp với thuốc kích thích tiết insulin hoặc insulin, và nguy cơ cao xảy ra các phản ứng có hại liên quan đến suy giảm thể tích như chóng mặt tư thế.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú
Phụ nữ có thai:
Không có dữ liệu về việc sử dụng canagliflozin cho phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính trên sinh sản.
Không nên dùng Ronakym trong thời kỳ mang thai. Nếu phát hiện có thai, nên ngừng điều trị bằng Ronakym.
Phụ nữ cho con bú:
Chưa biết liệu canagliflozin và/hoặc chất chuyển hóa của nó có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Dữ liệu dược lực học/độc tính cho thấy canagliflozin/các chất chuyển hóa bài tiết trong sữa, cũng như tác động về mặt dược lý ở chuột con đang bú mẹ và chuột con hấp thu canagliflozin. Không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ sơ sinh/nhũ nhi. Khuyến cáo không dùng Ronakym trong thời kỳ cho con bú.
Khả năng sinh sản:
Ở người không có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng sinh sản. Các nghiên cứu trên động vật không ghi nhận ảnh hưởng trên khả năng sinh sản.
Bảo quản
- Tránh sức nóng trực tiếp hoặc ánh sáng trực tiếp.
- Để xa tầm tay trẻ em.